Cách chữa thoái hóa cột sống với 5 bài thuốc nam

Bệnh thoái hóa cột sống nếu không được điều trị sẽ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm như tê bì chân tay, teo cơ, đi lại khó khăn, liệt tứ chi, tàn phế. Theo các chuyên gia xương khớp, điều trị thoái hóa cột sống không dễ nhưng cũng không quá khó nếu xác định được mức độ bệnh và chọn được phương pháp chữa trị hợp lý. Trong đó, phương pháp chữa thoái hóa cột sống bằng các loại thảo dược, vị thuốc Đông y được nhiều bệnh nhân tin dùng vì cho hiệu quả tốt lại không gây tổn hại về sức khỏe.

Chữa gai cột sống với các bài thuốc nam
Chữa thoát vị đĩa đệm hiệu quả nhanh nhất



Bài 1: Chữa thoái hóa cột sống

Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống cổ bằng lá lốt được nhiều người áp dụng và cho hiệu quả tốt.

Bạn chuẩn bị các vị thuốc gồm: Lá lốt, cây xấu hổ hoa tím (trinh nữ), lá đinh lăng. Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống bằng lá lốt áp dụng cho các trường hợp bị thoái hóa đốt sống cổ.

- Lá lốt dùng cả thân và rễ, cây xấu hổ lấy phần thân.
- Lá lốt rửa sạch, phơi khô, cắt 3 phân: Phơi trong bóng mát cho héo rồi phơi 3 nắng. Mỗi lần dùng khoảng 30g, cây tươi là 50 – 70g.
- Xấu hổ rửa sạch, phơi khô, cắt ngắn; mỗi lần dùng 30g, cây tươi là 50 – 70g.
- Lá đinh lăng rửa sạch, phơi khô, mỗi lần dùng 30g, lá tươi là 50- 70g.
- Cho cả 3 vị thuốc trên vào nồi, rồi thêm 1,5 lít nước, đun sôi, uống cả ngày. Dùng trong 1 tuần sẽ thấy hiệu quả.

Bài 2: Chữa thoái hóa cột sống

Bài thuốc này gồm các vị thuốc: Cây lá lốt, cây ngải cứu, cây xấu hổ (hoa tím), cây cỏ xước.
- Cây lá lốt và ngải cứu lấy cả thân, lá, rễ. Cây xấu hổ lấy phần thân, cây cỏ xước lấy cả rễ.
- Lá lốt, ngải cứu rửa sạch, phơi khô, cắt khúc; xấu hổ và cỏ xước rửa sạch, phơi tái, rũ bỏ sạch lá, cắt khúc.
- Tất cả đem sao vàng, mỗi vị lấy 150g cho vào ấm sắc thuốc và cho thêm vài lát gừng tươi cho ấm và dẫn thuốc. Cho nước vào, đun sôi một lúc là được, lấy nước uống hàng ngày.
- Bạn có thể cho thêm một nhúm cam thảo nam, 100g rễ, thân, lá đinh lăng khô khi sắc sẽ dễ uống hơn.

Bài 3: Chữa thoái hóa cột sống

Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống này cần chuẩn bị các vị thuốc gồm: Thạch cao, quế chi, cam thao (đã nướng), tri mẫu, ngạch mễ.
- Lấy 24g thạch cao, 12g quế chi, 8g cam thảo (đã nướng), 20g tri mẫu, 40g ngạch mễ.
- Cho vào ấm thuốc, cho nước vào sau đó sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang.
- Bạn sẽ thấy những cơn đau do thoái hóa cột sống giảm đi nhiều.

Bài 4: Chữa thoái hóa cột sống

Chuẩn bị các vị thuốc: Ma hoàng, ý dĩ, quế chi, cát căn, thược dược, đại táo.
- Lấy 8g ma hoàng, 16g ý dĩ, 12g quế chi, 16g cát căn, 12g thược dược, 16g đại táo.
- Sắc các vị thuốc trên để uống, mỗi ngày một thang.

Bài 5: Chữa thoái hóa cột sống

Chuẩn bị các vị thuốc gồm: Bạch truật, hoàng kỳ, cam thảo, phòng kỷ, sinh khương, đại táo.
- Lấy bạch truật 12g, hoàng kỳ 16g, cam thảo 6g, phòng kỷ 12g, sinh khương 6g, đại táo 16g.
- Đem sắc nước uống, mỗi ngày một thang cho đến khi thoái hóa cột sống khỏi hẳn.
Xem thêm…

Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống hiệu quả

Bệnh thoái hóa cột sống là một trong những căn bệnh phổ biến trong xã hội hiện nay. Có rất nhiều bệnh nhân đã từng trải qua nhiều phương pháp điều trị khác nhau nhưng không mang lại hiệu quả. Chính vì lý do này mà nhiều bệnh nhân đã mất đi hi vọng vào việc chữa khỏi bệnh thoái hóa cột sống.
Cùng khám phá về bài thuốc gia truyền cổ phương chữa khỏi bệnh thoái hóa. Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu:

Biểu hiện thoái hóa cột sống như thế nào?

Đau nhức ê ẩm thường xuyên là một trong những biểu hiện của bệnh thoái hóa. Tuy nhiên tùy vào vị trí bị thoái hóa khác nhau sẽ có những tên gọi khác nhau:
Bệnh thoái hóa cột sống vùng cổ: Bệnh nhân thường có những triệu chứng đau nhức cổ, vai gáy thường xuyên, có những người bị đau lan ra bả vai, cánh tay, thậm chí đau kéo lên đỉnh đầu tức hốc mắt.
Bện thoái hóa cột sống vùng lưng: Cảm nhận đầu tiên là bệnh nhân thấy đau ê ẩm vùng ngang thắt lưng. Một số trường hợp bị nặng hơn ngoài biểu hiện bệnh đau lưng có thể ảnh hưởng đau nhức tới chi chân, hoặc có những trường hợp tê bì dọc mông xuống cẳng chân.
Trong các nguyên nhân có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nhưng phần nhiều bệnh nhân mắc phải thường là do nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân chủ quan: Thói quen sinh hoạt, vận đông và nghỉ ngơi không hợp lý. Ngồi máy tính quá nhiều mà không đứng dậy để vận động. Bê vác vật nặng sai tư thể, chế độ dinh dưỡng không hợp lý…
Nguyên nhân khách quan: Do yếu tố di truyền – Nếu bố hay mẹ bạn có cấu trúc cột sống không tốt thì khả năng hệ thống cột sống của bạn cũng bị ảnh hưởng phần nào.
Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống: Độc hoạt tang ký sinh

Thành phần:

Độc hoạt
8g
Thục địa
8g
Phòng phong
8g
Bạch thược
12g
Tang ký sinh
20g
Tế tân
4g
Đảng sâm
8g
Đỗ trọng
12g
Phục linh
4g
Tần giao
12g
Cam thảo
6g
Ngưu tất
8g
Xuyên khung
8g
Quế tâm
4g
Đương quy
12g

Bài thơ dễ nhớ:                
Độc - Phòng - Tang ký sinh thang
Tứ quân mà lại chẳng mang Truật đầu
Tứ vật - Tế - Đỗ - Giao nhau
Ngưu rồi lại Quế chữa đau như thần.

Cách dùng:

Sắc nước uống chia 2 lần trong ngày

Tác dụng:

Trừ phong thấp, giảm đau, dưỡng can thận, bổ khí huyết
Phân tích bài thuốc: Trong phương dùng Đỗ trọng, Ngưu tất, Tang ký sinh để bổ ích can thận, cường cân tráng cốt. Xuyên khung, Đương quy, Thục địa, Bạch thược (Khung - Quy - Thục - Thược: chính là bài Tứ vật) để hòa doanh, dưỡng huyết theo thuyết “trị phong tiên trị huyết, huyết hành thì phong tự kết. Sâm, Linh, Thảo (là bài Tứ quân nhưng thiếu Bạch truật) để ích khí phù tý. Các vị trên đều là các vị phù chính khư tà, làm cho chính khí vượng thì tà tự trừ. Độc hoạt, Tế tân, vào thận kinh tìm phong trừ bỏ chứng tý, khiến cho tà xuất ra ngoài. Quế tâm vào thận kinh, huyết phận để khư hàn chỉ thống. Tần giao, Phòng phong khư phong tà, hành cơ biểu, thắng thấp.
Chứng tý thường biểu hiện ở gân, cốt, cơ nhục đau nhức, khớp xương không lợi đều là những nơi biểu hiện của can thận (thận chủ cốt, can chủ cân, eo lưng đầu gối là phủ của thận), do đó bệnh lâu ngày tất làm cho can thận đều khuy tổn. Cho nên trong phương trọng dụng thuốc ích bổ can thận, bổ khí huyết, phối với các thuốc khu phong trừ thấp tán hàn làm cho khí huyết đầy đủ thì phong thấp tự trừ, can thận khỏe mạnh thì chứng tý cũng hết.
Trong bài này do chú trọng bổ can thận, hơn nữa Độc hoạt lại có tính đi xuống chữa phục phong thủy thấp, cho nên bài này chủ yếu dùng để điều trị các chứng phong ở phần dưới cơ thể từ thắt lưng trở xuống như: đau lưng, đau thần kinh tọa, đau các khớp chi dưới...
Nếu chứng tý lâu ngày thì lạc mạch không thông, gia thêm các vị để thông lạc như: Mộc qua, Ngũ gia bì, Thân cân thảo, Hải phong đằng...
Phụ phương:
Tam tý thang: thang Độc hoạt ký sinh thang bỏ Tang ký sinh, gia Hoàng kỳ, Tục đoạn. Có công dụng như bài Độc hoạt ký sinh thang nhưng công dụng bổ mạnh hơn.
Khương hoạt tục đoạn thang (hay Khương hoạt ký sinh thang): bỏ Độc hoạt, Tang ký sinh, Cam thảo, thêm Khương hoạt, Tục đoạn, Bạch chỉ, Sinh khương.

Ứng dụng lâm sàng:

1.     Trường hợp chứng hàn tý lâu ngày, dùng bài thuốc cần gia thêm Xuyên ô, Thiên niên kiện, Bạch hoa xà để thông kinh lạc, trừ hàn thấp

2.     Trường hợp viêm khớp mạn tính đau lưng, đau khớp lâu ngày, đau thần kinh tọa thuộc chứng thận hư, khí huyết bất túc dùng bài này gia giảm có kết quả tốt

5 BÀI THUỐC CHỮA THOÁI HÓA CỘT SỐNG ĐƠN GIẢN NHẤT

Bài 1: Chữa thoái hóa cột sống

Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống cổ bằng lá lốt được nhiều người áp dụng và cho hiệu quả tốt.

Bạn chuẩn bị các vị thuốc gồm: Lá lốt, cây xấu hổ hoa tím (trinh nữ), lá đinh lăng. Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống bằng lá lốt áp dụng cho các trường hợp bị thoái hóa đốt sống cổ.

- Lá lốt dùng cả thân và rễ, cây xấu hổ lấy phần thân.
- Lá lốt rửa sạch, phơi khô, cắt 3 phân: Phơi trong bóng mát cho héo rồi phơi 3 nắng. Mỗi lần dùng khoảng 30g, cây tươi là 50 – 70g.
- Xấu hổ rửa sạch, phơi khô, cắt ngắn; mỗi lần dùng 30g, cây tươi là 50 – 70g.
- Lá đinh lăng rửa sạch, phơi khô, mỗi lần dùng 30g, lá tươi là 50- 70g.
- Cho cả 3 vị thuốc trên vào nồi, rồi thêm 1,5 lít nước, đun sôi, uống cả ngày. Dùng trong 1 tuần sẽ thấy hiệu quả.

Bài 2: Chữa thoái hóa cột sống

Bài thuốc này gồm các vị thuốc: Cây lá lốt, cây ngải cứu, cây xấu hổ (hoa tím), cây cỏ xước.
- Cây lá lốt và ngải cứu lấy cả thân, lá, rễ. Cây xấu hổ lấy phần thân, cây cỏ xước lấy cả rễ.
- Lá lốt, ngải cứu rửa sạch, phơi khô, cắt khúc; xấu hổ và cỏ xước rửa sạch, phơi tái, rũ bỏ sạch lá, cắt khúc.
- Tất cả đem sao vàng, mỗi vị lấy 150g cho vào ấm sắc thuốc và cho thêm vài lát gừng tươi cho ấm và dẫn thuốc. Cho nước vào, đun sôi một lúc là được, lấy nước uống hàng ngày.
- Bạn có thể cho thêm một nhúm cam thảo nam, 100g rễ, thân, lá đinh lăng khô khi sắc sẽ dễ uống hơn.

Bài 3: Chữa thoái hóa cột sống

Bài thuốc chữa thoái hóa cột sống này cần chuẩn bị các vị thuốc gồm: Thạch cao, quế chi, cam thao (đã nướng), tri mẫu, ngạch mễ.
- Lấy 24g thạch cao, 12g quế chi, 8g cam thảo (đã nướng), 20g tri mẫu, 40g ngạch mễ.
- Cho vào ấm thuốc, cho nước vào sau đó sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang.
- Bạn sẽ thấy những cơn đau do thoái hóa cột sống giảm đi nhiều.

Bài 4: Chữa thoái hóa cột sống

Chuẩn bị các vị thuốc: Ma hoàng, ý dĩ, quế chi, cát căn, thược dược, đại táo.
- Lấy 8g ma hoàng, 16g ý dĩ, 12g quế chi, 16g cát căn, 12g thược dược, 16g đại táo.
- Sắc các vị thuốc trên để uống, mỗi ngày một thang.

Bài 5: Chữa thoái hóa cột sống

Chuẩn bị các vị thuốc gồm: Bạch truật, hoàng kỳ, cam thảo, phòng kỷ, sinh khương, đại táo.
- Lấy bạch truật 12g, hoàng kỳ 16g, cam thảo 6g, phòng kỷ 12g, sinh khương 6g, đại táo 16g.
- Đem sắc nước uống, mỗi ngày một thang cho đến khi thoái hóa cột sống khỏi hẳn.
Xem thêm…

4 bài thuốc chữa đau lưng hiệu quả nhất

Đau lưng một bên hay hai bên cột sống là một chứng bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra. Có thể chia làm 2 loại: đau lưng cấp và đau lưng mãn.
Đau lưng cấp thường do bị lạnh gây co cứng các cơ ở sống lưng: dây chằng cột sống bị viêm, bị phù nề chèn ép vào thần kinh khi vác nặng, sai tư thế, sang chấn vùng sống lưng. Đau lưng mãn thường do viêm xương cột sống, thoái hóa cột sống, lao, ung thư, đau các nội tạng ở ngực, bụng lan tỏa ra sau lưng, đau lưng cơ năng do thống kinh, suy nhược thần kinh…
Cần chẩn đoán nguyên nhân gây ra chứng đau lưng, cần chữa các bệnh đã nêu ở các chương khác, kết hợp với chữa chứng đau lưng cục bộ bằng thuốc, châm cứu xoa bóp.
Tài liệu này giới thiệu chứng đau lưng cấp và chứng đau lưng mãn do một số nguyên nhân gây ra.

I. ĐAU LƯNG CẤP DO CO CỨNG CÁC CƠ.
Y học dân tộc cho rằng do hàn thấp gây ra:
Triệu chứng: đau lưng xảy ra đột ngột, sau khi bị lạnh, mưa, ẩm thấp, đau nhiều không cúi được, ho và trở mình cũng đau co cứng, mạch trầm huyền .
Phương pháp chữa: khu phong, tán hàn, trừ thấp, ôn kinh hoạt lạc (hoành khí hoạt huyết )
Bài thuốc :
Bài 1: Quế chi                8g                           Kê huyết đẳng    16g
         Rễ lá lốt                8g                          Trần bì                  6g
          Thiên niên kiện     8g                         Cỏ xước                12g
          Ý dĩ                      16g                       Rễ cành cây         
          Tỳ giải                 16g                                 Xấu hổ                 16g
Sắc uống.
Bài 2: Can khương thương truật thang gia giảm :
          Can khương           8g                Quế chi               8g
          Thương truật         8g                Ý dĩ                    12g
          Cam thảo              6g                Xuyên khung      16g
          Phục linh              12g    
          Bài 3: khương thương truật thang gia giảm (bài 2)
                   Khương hoạt        12g                       Can khương            6g
                    Tang ký sinh       12g                       Phục linh                        10g
                   Quế chi                  8g                           Ngưu tất                      12g
                    Thương truật        8g
          Nếu đau nhiều có thể thêm Phụ tử chế 8g  , Tế tân 4g ,……
          Châm cứu: châm kim tại vùng đau (a thị huyệt), cần châm tả (vè kim luôn) nếu từ D12 trở lên thì thêm 2 huyệt Kiên tỉnh, nếu từ thắt lưng trở xuống châm huyệt Uỷ trung, Dương lăng tuyền cùng bên đau.
Xoa bóp: dùng các thủ thuật ấn, day, lăn … trên vùng cơ bị co cứng, từ thắt lưng trở xuống ấn day huyệt Côn lôn cùng bên .
Nhĩ châm: Vùng lưng, Thắt lưng (tùy nơi đau)
Sau khi châm xoa bóp, nhĩ châm nên bảo người bệnh vận động ngay thường kết quả nhanh chóng.

II. ĐAU LƯNG CẤP KHI THAY ĐỔI TƯ THẾ HAY VÁC NẶNG, LỆCH TƯ THẾ.
YHDT cho là khí trệ huyết ứ.
Triệu chứng: Sau khi vác nặng lệch người, hoặc sau một động tác thay đổi tư thế đột nhiên bị đau một bên sống lưng, đau dữ dội ở một chỗ, vận động hạn chế nhiều khi không cúi, đi lại được, cơ co cứng.
Phương pháp chữa: hành khí hoạt huyết, thư cân hoạt lạc.
Bài thuốc:
Bài 1: Dùng muối rang chườm nóng tại chỗ.
Bài 2: Lá ngải cứu sao rượu, đắp ấm tại chỗ.
Bài 3: Xoa cồn bóp Ô đầu sống Quế, Đại hồi (chú ý nhãn chai thuốc, bảo quản tránh uống nhầm gây ngộ độc).
Châm cứu, xoa bóp, tiêm thuốc vào nơi đau giống như đau lưng cấp do bị lạnh.

III. ĐAU LƯNG DO VIÊM CỘT SỐNG:
Cổ sưng, nóng, đỏ, vùng cột sống lưng đau: YHDT cho là do thấp nhiệt.
Cách chữa và dùng thuốc giống như bệnh viêm khớp dạng thấp tiến triển.
Tại chỗ: Châm cứu, xoa bóp như đã giới thiệu.
Không nên vận động nhanh, mạnh như trường hợp đau lưng do lạnh, nên vận động từ từ nhẹ nhàng theo sự tiến triển tốt dần của khớp cột sống bị viêm.

IV. ĐAU LƯNG DO BỊ SUY NHƯỢC THẦN KINH, ĐAU  LƯNG Ở NGƯỜI GIÀ DO CỘT SỐNG BỊ THOÁI HÓA:
YHDT cho là thận hư.
Nếu do suy nhược thần kinh, cơ bản là chữa toàn thân như đã nêu ra ở bài suy nhược thần kinh, thêm các thuốc vừa bổ thận và chữa đau lưng như Ngưu tất, tục đoạn. Cẩu tích, Ba kích, Đỗ trọng…
Nếu do thoái hóa cột sống người già, cũng dùng các thuốc chữa đau lưng bổ thận, trừ phong thấp như các thuốc đã nêu ở bài thoái hóa cột sống.
Tại chỗ dùng châm kim hay cứu, tùy theo hư hàn hay âm hư (âm hư: châm bổ, hư hàn: cứu) vào các huyện, vùng thắt lưng như Thận du, Đại trường du, Mệnh môn, Chí thất, Bát liêu…
Xoa bóp vùng thắt lưng.
Nếu do thoái hóa cột sống: động viên người bệnh vận động nhẹ nhàng, thường xuyên để hồi phục lại động tác tranh sơ hóa dính khớp thêm.
Xem thêm…

Bệnh xương khớp và các phương pháp điều trị

(Viêm đa khớp, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp và đau nhức các khớp)

Viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa khớp và đau nhức các khớp đều thuộc phạm vi chứng tý của YHDT (tý nghĩa là tắc lại).

Do vệ khí của cơ thể không đầy đủ, các tà khí như phong, hàn, thấp, nhiệt xâm phạm vào cân, cơ, khớp xương, kinh lạc làm sự vận hành của khí kuyết tắc lại gây các chứng sưng, đỏ, nóng, đau các khớp. Do người già can thận bị hư, hoặc bệnh lâu ngày làm khí huyết giảm sút, dẫn đến can thận bị hư, thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân làm xương, khớp xương bị thoái hóa, biến dạng, cơ bị teo và khớp bị dính…
Vì vậy khi chữa các bệnh viêm đa khớp, các phương pháp chữa đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân cơ xương; đưa là khí (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài, bồi bổ khí huyết can thận để chống tái phát (ngay vệ khí cũng do thận sinh ra) và để chống lại các hiện tượng thoái hóa khớp, biến dạng khớp, teo cơ, cứng khớp nhằm hồi phục chức năng bình thường của các khớp xương.

Để dễ vận động trong việc chữa bệnh, tài liệu này phân loại các thể bệnh, triệu chứng và cách chữa như sau:

I. ĐAU NHỨC CÁC KHỚP KHÔNG CÓ NÓNG, ĐỎ:
(Có tài liệu gọi là bệnh khớp không có tiêu chuẩn chẩn đoán)

Y HỌC DÂN TỘC GỌI LÀ LOẠI PHONG HÀN THAP TÝ
Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp, lạnh mưa ẩm thấp đau tăng hoặc tái phát, bệnh mãn tính. Trên lâm sàng còn căn cứ vào triệu chứng thiên về phong, thiên về hàn hay thiên về thấp để phân loại ra các thể nhỏ như phong tý, hàn tý, thấp tý.
Khi chữa bệnh, phương pháp chung là khu phong tán hàn trừ thấp, căn cứ về sự thiên lệch về phong, hàn hay thấp mà cho thuốc chữa phong là chính, hàn là chính, hay thấp là chính. Khi chữa bệnh còn phân biệt bệnh mới mắc hay đã tái phát nhiều lần: nếu mới mắc thì lấy trừ tà là chính, nếu lâu ngày vừa phù chính (bổ can thận khí huyết) vừa trừ tà để tránh tái phát và đề phòng những biến chứng và những cố tật sau này.

1. Phong tý hay hành tý: do phong là chính
Triệu chứng: đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp, sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù.
Phương pháp chữa: Khu phong là chính, tán hàn trừ thấp là phụ, họa huyết, hành khí.
Bài thuốc:
Bài 1: Thổ phục linh      16g             Quế chi                 8g
Ké đầu ngựa                   16g             Bạch chỉ               8g
Hy thiêm              16g             Tỳ giải                  12g
Uy linh tiên          12g             Ý dĩ                      12g
Rễ vòi voi             16g             Cam thảo nam      12g
Bài 2: Phòng phong thang gia giảm:
Phòng phong        12g             Bạch thược           12g
Khương hoạt        12g             Đương quy           12g
Tần giao               8g              Cam thảo             6g
Quế chi                 8g              Ma hoàng             8g
Phục linh              8g
Châm cứu
- Tại chỗ: châm các huyệt tại các khớp sưng đau và vùng lân cận khớp đau.
- Toàn thân: châm huyệt Hợp cốc, Phong môn, Phong trì, Huyết hải, Túc tam lý, Cách du.
Nhĩ châm: châm vào vùng tương ứng với đa khớp đau ở gờ đối vành và thuyền tai.

2. Hàn tý hay thống tý: 
Đau dữ dội ở một khớp, trời lạnh đau tăng, chườm nóng thì đỡ, tay chân lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn hoặc nhu hoãn.
Phương pháp chữa: tán hàn là chính, khu phong trừ thấp là phụ, hành khí hoạt huyết.
Bài thuốc:
Bài 1: Quế chi                8g              Ý dĩ                      12g
Can khương                   8g              Thương truật        8g
Phụ tử chế            8g              Xuyên khung        8g
Thiên niên kiện     8g              Ngưu tất               8g
Uy linh tiên          8g
Bài 2: Quế chi                8g              Ý dĩ                      12g
Rễ cây                  12g             Ngũ gia bì             8g
Can khương                   8g              Ngưu tất               8g
Thiên niên kiện     8g              Xuyên khung        8g
Ké đầu ngựa                   12g
Bài 3: Ô đầu thang gia giảm
Phụ tử chế            8g               Hoàng kỳ             8g
Ma hoàng             8g               Phục linh              8g
Bạch thược           8g               Cam thảo             6g
Châm cứu: cứu Quan nguyên, Khí hải, Túc tam tỳ, Tam âm giao.
Châm bổ ôn châm các huyệt tại chỗ và lân cận các khớp đau.

3. Tháp tý hay trước tý (trước: kéo xuống, co rút xuống).

Triệu chứng: Đa khớp nhức mỏi, đau một chỗ, tê bì, đau các cơ, vận động khó, miệng nhạt, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoãn.
Phương pháp chữa: trừ thấp là chính, tán hàn khu phong là phụ, hành khí, hoạt huyết.
Bài thuốc:
Bài 1: Ý dĩ                     16g             Quế chi                 6g
Ngũ gia bì             12g             Bạch chỉ               6g
Tỳ giải                  16g             Xuyên khung        12g
Rễ cây lá lốt                   8g              Đan sâm               12g
Rễ cỏ xước           12g
Bài 2: Ý dĩ nhân thang gia giảm
Ý dĩ                      16g             Ô dược                 8g
Thương truật        12g             Hoàng kỳ             12g
Ma hoàng             8g              Cam thảo             6g
Quế chi                 8g              Đảng sâm             12g
Khương hoạt        8g              Xuyên khung        8g
Độc hoạt              8g              Ngưu tất               8g
Phòng phong        8g
Châm cứu: châm Túc tam lý, Tam âm giao, Tỳ du, Thái khê, Huyết hải.
Tại chỗ: châm tại các khớp sưng đau và vùng lân cận nơi đau.

Nếu bệnh mắc lâu ngày dùng phương pháp công bổ kiêm trị, tùy vị trí các khớp đau mà chọn các vị thuốc hay bài thuốc thích hợp: đau vùng lưng, vai, cánh tay thì phương pháp chữa là bổ khí huyết, khu phong trừ thấp tán hàn, bài thuốc điển hình là Quyên tý thang (Khương hoạt 8g, Phòng phong 8g, Xích thược 12g, Khương hoàng (nghệ) 12g, Hoàng kỳ 12g, Đương quy 8g, Cam thảo 6g, Gừng 4g, Đại táo 12g), nếu đau từ thắt lưng xuống 2 chân thì phương pháp chữa là bổ can thận, khu phong, tán hàn, trừ thấp, bài thuốc điển hình là bài Độc hoạt ký sinh thang (Độc hoạt 8g, Phòng phong 8g, Tang ký sinh 12g, Tần giao 8g, Tế tân 4g, Ngưu tất 8g, Đỗ trọng 8g, Đương quy 12g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 8g, Sinh địa 12g, Đảng sâm 12g, Phục linh 8g, Cam thảo 6g, Quế tâm 4g) hoặc dùng bài Tam lý thang là bài Độc hoạt ký sinh thang bỏ Tang ký sinh, thêm Hoàng kỳ 12g, Tục đoạn 2g, có tác dụng bổ can thận khí huyết mạnh hơn.

II. THOÁI HÓA KHỚP:
YHDT cho rằng do can thận hư kết hợp với phong hàn thấp gây ra.
Triệu chứng: Giống kiểu phong hàn thấp tý thiên về hàn tý kèm thêm triệu chứng về can thận hư như đau lưng, ù tai, ngủ ít, nước tiểu trong, lưng gối mỏi đau, tiểu tiện nhiều lần, mạch trầm tế.
Phương pháp chữa: bổ can thận, khu phong, trừ thấp, tán hàn. Thuốc bổ thận dùng nhiều thuốc bổ thận dương như Tục đoạn, Thỏ ty tử, Ba kích, Đỗ trọng, Bổ cốt chi, Cáp giới (Tắc kè).
Bài thuốc: như bài Độc hoại ký sinh thang, Tam tý thang gia giảm.
Châm cứu: Cứu là chính vào các huyệt bổ thận như Quan nguyên, Khí hải, Thận du, Tam âm giao… tại chỗ châm bổ, ôn châm vào các huyệt tại khớp đau và vùng lân cận.

III. VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh kéo dài thường có những đợt tiến triển cấp: sưng, nóng, đỏ, đau các khớp hay gặp ở các khớp nhỏ đối xứng với nhau. Vị trí các khớp bị viêm: khớp ngón tay, bàn tay, cổ tay, khuỷu tay, ngón chân, bàn chân, đầu gối có khi cả khớp háng và đốt sống. Lâu ngày các khớp biến dạng dính cứng khớp làm hạn chế hoặc mất vận động.
1. Viêm khớp dạng thấp có đợt tiến triển cấp: YHDT gọi là phong thấp nhiệt tỳ.
Triệu chứng lâm sàng và cách chữa giống như thể viêm khớp của bệnh thấp tim.
Triệu chứng: Các khớp sưng, nóng, đỏ, đau (hay xuất hiện đối xứng). Cư án ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt, ra mồ hội, sợ gió, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng, mạch hoạt sác.
Phương pháp chữa: khu phong, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, lợi niệu trừ thấp (thanh nhiệt khu phong hóa thấp).
Bài thuốc:
Bài 1: Rễ cây vòi voi     16g             Hy thiêm              16g
Thổ phục linh       16g             Ngưu tất               12g
Nam độc lực         10g             Huyết dụ              10g
Rễ cây cà gai leo   10g             Kê huyết đắng      12g
Rễ cây cúc áo       10g             Sinh địa                12g
Bài 2: Bạch hổ quế chi thanh gia giảm:
Thạch cao             40g             Tang chi               12g
Tri mẫu                12g             Ngạnh mễ             12g
Quế chi                 6g              Kim ngân             20g
Hoàng bá              12g             Phòng kỷ              12g
Thương truật        8g
Nếu có hồng ban nút hoặc khớp sưng đỏ nhiều, thêm Đan bì 12g, Xích thược 8g, sinh địa 20g.
Bài 3: Quế chi thược trị mẫu thang gia giảm.
Quế chi                 8g               Tri mẫu                12g
Bạch thược           12g             Bạch truật            12g
Cam thảo             6g               Phòng phong        12g
Ma hoàng             8g               Kim ngân hoa       16g
                                                Liên kiều              12g
Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, nhiều mồ hôi, miệng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác, YHDT gọi là thấp nhiệt thương âm.
Phương pháp chữa: bổ âm thanh nhiệt, khu phong trừ thấp. Vẫn dùng bài thuốc trên, bỏ Quế chi, thêm các thuốc dưỡng âm thanh nhiệt như Sinh địa, Huyền sâm, Địa cốt bì, Sa sâm, Miết giáp, Thạch hộc…
Châm cứu: châm cứu huyệt tại các khớp sưng đau và vùng lân cận, toàn thân châm huyệt Hợp cốc, Phong môn, Túc tam lý, Huyết hải, Đại chùy…
2. Viêm đa khớp dạng thấp kéo dài có biến dạng, teo cơ, dính cứng khớp, đàm ứ ở kinh lạc.
Phương pháp chữa: nếu còn sưng đau các khớp: khu phong thanh nhiệt, trừ thấp thêm các thuốc trừ đàm, dùng các bài thuốc ở phần trên, thêm các thuốc:
Nam tinh chế        8g              Đào nhân             8g
Bạch giới tử sao   8g              Hồng hoa             8g
Cương tàm           12g
Xuyên sơn giáp    8g             
Châm cứu: châm các huyệt như phần trên.
Xoa bóp: Tại các khớp bằng các thủ thuật ấn, day, lăn, véo các khớp và các cơ quanh khớp.
Vận động: vừa xoa bóp vừa vận động các khớp theo các tư thế, động tác cơ năng. Vận động từng bước, động viên người bệnh chịu đựng, dần dần tới lúc các khớp hồi phục các động tác, động viên người bệnh thường xuyên luyện tập đi, tập co duỗi theo các động tác cơ năng.
Xoa bóp, vận động là phương pháp chủ yếu và quyết định kết quả chữa bệnh trong giai đoạn này.
3. Đề phòng bệnh viêm đa khớp dạng thấp tái phát:
Sau khi bệnh đã ổn định, đa khớp hết sưng, nóng, đỏ, đau cần đề phòng đợt tái phát bằng các biện pháp sau:
a. Dùng thuốc uống phòng: Như đã trình bày ở trên, bệnh do các yếu tố phong thấp, nhiệt nhân vệ khí hư mà xâm nhập vào cơ thể, trong cơ thể người bệnh bẩm tố âm hư, huyết nhiệt (tình trạng dị ứng nhiễm trùng), can thận hư, không nuôi dưỡng cân xương được tốt, làm vệ khí yếu là điều kiện để phong nhiệt xâm phạm vào cơ thể gây bệnh tái phát.
Phương pháp dùng thuốc: bổ can thận, lương huyết, khu phong trừ thấp.
Bài thuốc:
Sinh địa                12g             Ngưu tất               16g
Huyền sâm           12g             Phòng phong        12g
Phụ tử chế            6g               Thổ phục linh       16g
Tang ký sinh        12g             Kim ngân dây       16g
Thạch hộc            12g             Ý dĩ                      12g
Hà thủ ô               12g             Tỳ giải                  12g
Tán nhỏ, dùng mỗi ngày 40g sắc uống. Hoặc dùng bài thuốc trên sắc uống mỗi tuần 3 thang, trong 3 tháng.
Hoặc dùng bài Độc hoạt ký sinh thang dạng bột hay dạng thuốc sắc để can thận, khí huyết kết hợp với khu phong hoạt huyết (thêm Phụ tử chế):
Độc hoạt              12g             Sinh địa                12g
Phòng phong        12g             Bạch thược           12g
Tang ký sinh        16g             Đương quy           8g
Tế tân                            8g              Đảng sâm             12g
Tần giao               8g              Phục linh              12g
Ngưu tất               12g             Cam thảo             6g
Đỗ trọng               12g
Quế chi                 8g


b. Xoa bóp, luyện tập thường xuyên, tự rèn luyện để cơ thể thích ứng dần dần với mọi hoàn cảnh thời tiết, lạnh, ẩm thấp, gió, mưa…
Xem thêm…

Copyright
NHÀ THUỐC BẮC SONG HƯƠNG
Quốc lộ 1A, Thôn Kế Xuyên, Xã Bình Trung, Huyện Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam
0903 581 114 - 0235 3873 045 - 01677 181 181- 0914 33 44 50
Email: Songhuongdongy@gmail.com
Tài khoản NH: Ngân hàng AGRIBANK
Chủ TK: Nguyễn Viết Hương STK: 4203 215 030 388 / CN: Huyện Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam
Những thông tin trong website chỉ mang tính chất tham khảo, người xem không nên tự ý làm theo mà phải có sự hướng dẫn chuyên môn của bác sĩ, thầy thuốc. Tùy theo cơ địa của mỗi người bệnh mà hiệu quả điều trị có sự khác nhau.